1. Việc tổ chức các điểm tiêm chủng ở trạm y tế và ngoài trạm y tế đã làm tăng tỷ lệ tiêm chủng của trẻ em và phụ nữ có thai ở huyện miền núi Đà Bắc: tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi là 89,7%; tỷ lệ phụ nữ có thai tiêm đủ vắc-xin uốn ván là 80,1%. Tuy nhiên, một số thực hành của cán bộ y tế chưa đúng đã làm giảm chất lượng tiêm chủng: 19,4% số xã mang lọ văc xin đã mở tới điểm tiêm chủng ngoài trạm y tế; 85,7% số xã không thực hiện khám phân loại trước khi tiêm, 19,1% số xã không ghi chép về phản ứng sau tiêm chủng.
2. Sự không ổn định của đội ngũ cán bộ làm công tác tiêm chủng và kiến thức yếu của cán bộ y tế là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tiêm chủng: 66,7% số xã có tình trạng thay đổi cán bộ; chỉ có 3,5% hiểu biết đầy đủ nội dung về tiêm chủng an toàn; 47,1% cán bộ y tế không biết đầy đủ về phản ứng sau tiêm chủng. Kiến thức, thực hành của bà mẹ về TCMR ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng tiêm chủng: Các bà mẹ đưa con đi tiêm muộn so với lịch tiêm chủng, có 50,12% số bà mẹ đưa con đi tiêm tháng thứ nhất. Kiến thức đúng và đầy đủ về TCMR là yếu tố liên quan chặt chẽ đến thực hành đúng về tiêm chủng của bà mẹ (OR = 23,38, p<0,001); Được tư vấn về TCMR trước khi sinh là yếu tố ảnh hưởng tới thực hành của bà mẹ về tiêm chủng (OR = 3,08, p< 0,001).
3. Các giải pháp can thiệp tập huấn cho tất cả cán bộ y tế xã, nhân viên y tế thôn bản và giám sát hỗ trợ trong buổi tiêm chủng đã nâng cao kiến thức, thực hành tiêm chủng của cán bộ y tế: hiểu biết về tiêm chủng an toàn (CSHQ = 335,2%). Sau can thiệp, 100% điểm tiêm chủng thực hành đúng theo yêu cầu an toàn tiêm chủng. Cán bộ y tế xã và nhân viên y tế thôn bản truyền thông trực tiếp đã cải thiện rõ rệt kiến thức, thực hành của bà mẹ về tiêm chủng mở rộng. Số bà mẹ đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ, biết theo dõi trẻ sau tiêm chủng đúng tại 3 xã sau can thiệp cao hơn so với 3 xã đối chứng (p < 0,05 và p < 0,001).