Tóm tắt những kết luận mới của luận án:
Đã xác định hội chứng tăng áp lực nội sọ với 3 triệu chứng phổ biến là đau đầu dai dẳng, tăng dần, nôn, buồn nôn và giảm thị lực có giá trị trong chẩn đoán lâm sàng u não thể Glioma (u thần kinh đệm) ở bán cầu đại não. Ngoài ra liệt nửa người, động kinh và giảm trí nhớ cũng có giá trị chẩn đoán. Nghiên cứu nhận thấy bệnh nhân u thần kinh đệm bán cầu vào viện do đau đầu là 89,7%, nôn, buồn nôn chiếm 39,7%, giảm thị lực: 26,9%, liệt nửa người: 27,6%, động kinh: 25,5%.
Đã khẳng định giá trị của chụp cắt lớp vi tính, đặc biệt là cộng hưởng từ đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán u thần kinh đệm. Với độ chính xác 98,5% (cắt lớp vi tính) và 100% đối với cộng hưởng từ trong việc xác định vị trí, kích thước, gianh giới khối u. Hình ảnh u thần kinh đệm trên phim chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ giúp thầy thuốc chỉ định phẫu thuật và tiên lượng được độ ác tính của u.
Đã khẳng định phẫu thuật lấy bỏ u là phương pháp điều trị quan trọng nhất của u thần kinh đệm bán cầu đại não so với điều trị hoá chất và xạ trị. Nếu không được phẫu thuật, nguy cơ tử vong là chắc chắn. Bệnh nhân được cải thiện chất lượng cuộc sống sau điều trị thông qua chỉ số Karnofski tăng dần (81,3% bệnh nhân đạt kết quả tốt theo chỉ số Karnofski sau mổ 12 tháng so với trước mổ là 55,2%).
Phẫu thuật kết hợp xạ trị gia tốc kéo dài thời gian sống thêm sau điều trị. Trong số 145 bệnh nhân u thần kinh đệm, sau 6 tháng điều trị 100% bệnh nhân còn sống (102 bệnh nhân phẫu thuật đơn thuần và 43 bệnh nhân phẫu thuật kết hợp xạ trị). Từ 13 đến 24 tháng sau điều trị, số bệnh nhân còn sống nhóm phẫu thuật kết hợp xạ trị cao hơn phẫu thuật đơn thuần (62,8% so với 49%). Thời gian sống trung bình theo loại tế bào của nhóm phẫu thuật kết hợp xạ trị cao hơn phẫu thuật đơn thuần: u thần kinh đệm ít nhánh (độ II) ở nhóm phẫu thuật kết hợp xạ trị là 4 năm, so với 2,7 năm phẫu thuật không xạ trị, u sao bào sợi (3,5 năm so với 2,6 năm).
