Tóm tắt những kết luận mới của luận án:
1. Sau thời kỳ thanh toán bệnh bại liệt (2001 – 2007), tỷ lệ mắc liệt mềm cấp do các vi rút đường ruột ở miền Bắc tương đối đồng đều nhưng tỷ lệ tử vong và tỷ lệ còn di chứng do các vi rút đường ruột thì không đồng đều nhau giữa các Năm (xem bảng dưới đây)
2. Liệt mềm cấp do các vi rút đường ruột tập trung cao nhất ở các nhóm tuổi 1 – 2 tuổi (64%). Bệnh thường xảy ra vào những tháng mùa hè – thu từ tháng 3 tới tháng 8 (chiếm 75,9%), trong khi tỷ lệ mắc theo giới không có sự khác biệt (Nam/nữ: 1,03/1,0)
3. Nhiều loại vi rút đường ruột phân lập được ở bệnh nhân liệt mềm cấp, trong đó vi rút nhóm Echo chiếm 53,0%; Coxsackie B chiếm 17,4%; Coxsackie A là 15,9%; vi rút Poli là 7,6% và EV71 chiếm 6,1%. Kết quả phân tích di truyền mười chủng vi rút Poli đều là chủng vi rút EV7 đều thuộc nhóm C, phân nhóm C5, giống với các chủng vi rút EV7 gây bệnh tay – chân – miệng trong cùng thời kỳ
Năm | Tỉ lệ mắc (%) | Tỉ lệ tử vong (%) | Tỉ lệ di chứng bại liệt (%) |
2001 | 8,3 | 0 | 7,1 |
2002 | 22,3 | 4,45 | 6,7 |
2003 | 20,3 | 0 | 9,5 |
2004 | 18,7 | 0 | 9,8 |
2005 | 21,6 | 1,82 | 5,8 |
2006 | 21,3 | 1,66 | 17,6 |
2007 | 13,8 | 0 | 3,4 |
