1 . Khoáng hoá vàng trong trầm tích phun trào Paleozoi muộn ở Nậm Kha á , Nậm Khao đới Mường Tè có nguồn gốc nhiệt dịch. Môi trường chứa quặng là phun trào hệ tầng Nậm Kha á (C1 - 2 nk) thành phần là basal, andezitobasal, ryolit, ryolitporphyr…
2. Quặng hoá được thành tạo vào giai đoạn hoạt động kiến tạo cuối Paleozoi đầu Mezozoi, khoảng Permi đến Trias (P- T), trong một thời kỳ tạo khoáng nhiều giai đoạn phát triển chồng lên nhau, phân bố chủ yếu trong đới dập vỡ, cà nát và thường phát triển tại nơi giao nhau giữa hai hệ thống đứt gẫy TB- ĐN và phương ĐB-TN. Quặng hoá vàng đới Mường Tè chịu sự khống chế của đứt gẫy sâu Sông Đà hướng TB-ĐN
3. Thành phần quặng phức tạp, vàng tự sinh có dạng tha hình, chủ yêú hạt nhỏ đến mịn. Thành phần đi kèm có Ag, Fe, Cu, Co, Pb, Zn, Sb, Hg, Se, Te, S.. điển hình cho kiểu vàng tự sinh hình thành ở đới nông, nhiệt độ trung bình đến thấp
4 . Vàng tự sinh là khoáng vật chủ yếu, nó gắn bó chặt chẽ với tổ hợp khoáng vật cộng sinh bền vững đặc trưng cho quá trình tạo khoáng nhiệt dịch ở điểm quặng Nậm kha á, Nậm Khao với thành hệ duy nhất là vàng- thạch anh- sulfur với hai kiểu quặng hoá:
- Kiểu vàng tự sinh- thạch anh- pyrit-chalcopyrit trong hệ tầng Nậm Kha á (C1-2 nk) thành phần basal,andezitobasal bị propylit hoá
- Kiểu vàng- thạch anh-pyrit-sfalerit-galenit trong hệ tầng Nậm Kha á (C1-2 nk) thành phần ryolit, ryolitporphyr bị argilit hoá
5 . Vùng Nậm Kha á, Nậm Khao là diện tích có khoáng hoá vàng, một trong những khoáng sản đặc trưng của đới Mường Tè, cần có các dự án nghiên cứu đánh giá chi tiết để sớm đưa vào khai thác, sử dụng. Khoáng hoá vàng phát triển dọc theo đứt gẫy sâu Sông Đà, ở đây xuất hiện nhiều diện tích đá núi lửa với thành phần phân dị từ basal đến ryolit bị biến đổi nhiệt dịch là dấu hiệu tìm kiếm vàng dọc đứt gẫy Sông Đà thuộc đới Mường Tè.