- Kỹ thuật điện di SDS-PAGE protein giúp đánh giá mức độ đa dạng di truyền và phân biệt hai loài lúa hoang ở ĐBSCL dựa vào mức độ ăn màu Coomassie của băng protein chỉ thị dạng basic glutelin. Quần thể của mỗi loài rất đa dạng (Ho từ 1,56-2,66 và HEP từ 0,53-0,66) là nguồn vật liệu quý để khai thác và sử dụng trong các chương trình lai tạo nhằm cải tiến giống lúa.
- Kỹ thuật điện di SDS-PAGE protein gíup đánh giá từng cá thể hạt gạo có hàm lượng amylose và hàm lượng protein theo mong muốn nhờ cách lấy mẫu phân tích chỉ sử dụng ½ nội nhũ hạt lúa (không chứa phôi). Tám dòng thuần được chọn từ chín tổ hợp lai đơn có hàm lượng protein cao (8,00%-11,24%), hàm lượng amyose thấp đến trung bình (7,10%-24,5%) là nguồn vật liệu mới được sử dụng trong chương trình chọn tạo giống lúa theo hướng cải tiến chất lượng gạo.
- Kỹ thuật điện di SDS-PAGE protein đã giúp nhà chọn giống sớm tuyển chọn chính xác những cá thể mong muốn ngay từ thế hệ đầu của các tổ hợp lai nên đã rút ngắn ½ thời gian tuyển chọn so với phương pháp truyền thống. Hai dòng/ giống lúa thuộc nhóm nếp có hàm hượng protein cao (trên 10%), hàm lượng amylase rất thấp (dưới 2%) và 03 dòng/ giống lúa thuộc nhóm gạo có hàm luợng protein cao (9,33% - 10,12%), hàm lượng amylose thấp (12,99% - 15,21%) là kết quả bước đầu ứng dụng kỹ thuật điện di SDS-PAGE protein.
- Phương pháp phân tích nội nhủ từ ½ hạt lúa không chứa phôi bằng Kỹ thuật điện di SDS-PAGE protein giúp nhà chọn giống chọn được những cá thể ưu tú chất lượng cao từ những quần thể giống đã bị thoái hóa. Dòng 007 giống lúa Tài Nguyên mùa; D òng 124 giống lúa Klong Kluong; Dòng 03 giống lúa VD20 và dòng 1-2 giống lúa Nếp Bè được chọn lọc dòng thuần từ 4 giống lúa đặc sản đã bị thoái hóa.
