1 . Ghép khoai lang là biện pháp kích thích các dòng- giống khoai lang ít và khó ra hoa phải ra hoa nhiều hơn trong vụ Đông. Kết quả nghiên cứu ghép khoai lang cho thấy:
- Thời vụ ghép tốt nhất cho khoai lang ở điều kiện miền Bắc Việt Nam từ 10/8 đến 10/9 hàng năm để đạt tỷ lệ cây ghép sống cao nhất từ 78,66 đến 88,83%.
- Thời điểm ghép tốt nhất trong ngày: Buổi sáng khoảng 8 giờ, cây ghép sống đạt tỷ lệ 83,33% ; buổi chiều khoảng 5 giờ (17 giờ) đạt tỷ lệ 93,33%.
- Cây gốc ghép Ipomoea setosa thích hợp nhất, tỷ lệ cây ghép sống cao nhất đạt 90,93%.
- Phương pháp ghép nêm cho tỷ lệ cây ghép sống cao nhất đạt 88,20%, hơn hẳn 2 phương pháp ghép áp và ghép mắt nhỏ.
- Chiều dài chồi ghép thích hợp nhất là khoảng 10 cm để có tỷ lệ cây ghép sống cao nhất đạt 84,44%.
2. ảnh hưởng của ghép đến kết quả ra hoa cho thấy:
- Tỷ lệ cây ra hoa sau khi ghép ở nhóm khoai lang ít và khó ra hoa tăng lên 5,66%, trong đó giống khó ra hoa như Chiêm Dâu tăng 9% (trước ghép tỷ lệ cây ra hoa chỉ đạt 2%, nhưng tỷ lệ ra hoa sau ghép đạt 11%)
3. Xây dựng 2 quy trình kỹ thuật:
- Quy trình ghép khoai lang: Thời vụ ghép; chuẩn bị gốc ghép và chồi ghép; kỹ thuật ghép khoai lang; chăm sóc cây ghép.
- Quy trình nhân và bảo quản quả, hạt của gốc ghép dại Ipomoea setosa: Thời vụ gieo trồng; chuẩn bị đất trồng; chuẩn bị hạt giống và gieo hạt;chăm sóc cây sau nảy mầm; thu hoạch, bảo quản quả và hạt.
4. Chọn lọc được 2 dòng khoai lang triển vọng K5(K51/KB1) và K6(D13/KB1). Qua 3 năm đánh giá tại Bắc Giang và một số tỉnh miền Bắc, dòng K5 đạt năng suất củ cao 22,06 tấn/ha (vụ Xuân) và 20,12 tấn/ha (vụ Đông); tỷ lệ chất khô trung bình từ 21,52% (vụ Đông) đến 23,70% (vụ Xuân). Dòng K6 đạt năng suất củ trung bình 14,40 tấn/ha (vụ Đông) và 17,95 tấn/ha (vụ Xuân); tỷ lệ chất khô cao từ 29,90% (vụ Đông) đến 31,24% (vụ Xuân).
