1. Trên cơ sở phân tích mạng lưới quan trắc động thái nước ngầm, tổng hợp tài liệu động thái mực nước, phân tích mối tương quan giữa các nhân tố hình thành cân bằng và yếu tố cân bằng nước ngầm trong phun trào bazan, tác giả đã xây dựng sơ đồ phân khu cân bằng, thành lập sân cân bằng, phương trình cân bằng để đánh giá các thành phần tham gia cân bằng nước ngầm (CBNN) trong phun trào bazan vùng Gia Lai.
2. Bằng phương pháp sai phân hữu hạn và mô hình số đã xác định lượng dòng chảy đến, chảy đi trong phun trào bazan vùng Gia Lai. Kết quả tính toán đã khẳng định: Cân bằng nước ngầm trong phun trào bazan vùng Gia Lai có 2 thành phần chủ yếu: Chảy đến là lượng thấm theo phương thẳng đứng, chảy đi là thoát theo phương ngang cung cấp cho dòng mặt các sông Ia Yun, Srepok, Sê San. Các thành phần khác còn lại của cân bằng đều đóng vai trò thứ yếu. Bao gồm: Thấm theo phương thẳng đứng chiếm 91,4% (3.332.435,2m3/ng), chảy đến theo phương ngang chiếm 8,6% (315.185,6m3/ng). Thoát theo phương ngang chiếm 68,3% (2.488.715,6m3/ng), thoát theo phương thẳng đứng chiếm 31,7% (1.156.353,9m3/ng).
3. Xây dựng được mô hình dòng ngầm trong phun trào bazan vùng Gia Lai bằng chương trình Visual MODFLOW và ứng dụng để dự báo cân bằng mới khi khai thác nước ngầm phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của nền kinh tế.
Kết quả dự báo cân bằng mới khi khai thác nước ngầm trong phun trào banzan: khu cân bằng Pleiku có thể khai thác 22.263m3/ng để cung cấp cho ăn uống, sinh hoạt, trong đó mùa khô trữ lượng động tự nhiên (Qđ) tham gia vào trữ lượng khai thác 8350m3/ng chiếm 36%, trữ lượng tĩnh tự nhiên (Qt) tham gia vào trữ lượng khai thác 13.913m3/ng chiếm 64%; mùa mưa Qđ tham gia vào trữ lượng khai thác 21.924m3/ng chiếm 98%, Qt tham gia vào trữ lượng khai thác 339m3/ng chiếm 2%. Khu cân bằng Chư Sê có thể khai thác 110.000m3/ng phục vụ tưới cây công nghiệp, Qđ tham gia vào trữ lượng khai thác cho tưới 13.857m3/ng chiếm 13%, Qt tham gia vào trữ lượng khai thác 96.143m3/ng chiếm 87%.
